Trang được xây dựng trên tempi - nền tảng xây dựng Website & Landing Page chuyên nghiệpSử dụng miễn phí ngay

THẾ HỆ TEM PHIẾU 

(Nguồn tham khảo: Báo Thanh Hóa điện tử. - “Trở về ký ức thời... bao cấp”)

Hiểu về thời bao cấp 

“Thời kỳ bao cấp” là tên gọi dùng để chỉ một giai đoạn lịch sử đặc biệt kéo dài từ năm 1976 đến năm 1986. Đó là thời kỳ mà hầu hết sinh hoạt kinh tế đều được Nhà nước chi trả, diễn ra dưới nền kinh tế kế hoạch hóa, một đặc điểm của nền kinh tế các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa thời kỳ đó. Trong giai đoạn đó, nền kinh tế tư nhân bị xóa bỏ nhường chỗ cho khối kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước. Chế độ hộ khẩu được thiết lập trong thời kỳ này để phân phối lương thực, thực phẩm, hàng hoá theo đầu người, hầu hết sinh hoạt kinh tế đều được nhà nước phân phối theo chế độ tem phiếu, sổ ... hạn chế trao đổi bằng tiền.

Trong nền kinh tế kế hoạch, phần lớn thương nghiệp tư nhân bị loại bỏ, hàng hóa được phân phối theo tem phiếu do Nhà nước nắm toàn quyền điều hành, hạn chế việc người dân tự do mua bán trên thị trường hoặc vận chuyển hàng hoá từ địa phương này sang địa phương khác. Nhà nước độc quyền phân phối hầu hết các loại hàng hóa, hạn chế trao đổi bằng tiền mặt. Chế độ hộ khẩu được thiết lập để phân phối lương thực theo đầu người, tiêu biểu nhất là sổ gạo ấn định bắt buộc và mặt hàng mà một gia đình nào đó được phép mua. Trong thời kỳ chiến tranh, chính sách này có tác dụng tốt là phân phối đồng đều hàng hóa thiết yếu cho mọi người dân, giúp người lính yên tâm ra trận mà không phải lo lắng về sinh kế của vợ con, ngăn chặn đầu cơ tích trữ và nhanh chóng dồn nguồn lực cho quốc phòng.

Hình ảnh chiếc máy ảnh thời bao cấp.

(Nguồn: Sưu tầm) 

MUA -BÁN THỜI BAO CẤP 

Phương thức thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là, Nhà nước nắm toàn bộ lương thực hàng hóa và đại bộ phận các nông sản hàng hóa khác, quản lý chặt chẽ việc mua bán, định rõ nghĩa vụ cho nông dân bán thóc và các nông sản khác cho Nhà nước và thực hiện chế độ hợp đồng thu mua giữa các cơ quan thu mua của Nhà nước và các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp.

Hình ảnh chợ Tết thời bao cấp. 

(Nguồn: Báo Xây Dựng) 

Đối với hàng công nghiệp, thực hiện chế độ hợp đồng bán nguyên liệu và đặt mua sản phẩm, bảo đảm thu mua và tiêu thụ toàn bộ sản phẩm của công nghiệp quốc doanh và của các xí nghiệp công tư hợp doanh; và thu mua phần lớn các hàng thủ công nghiệp có phẩm chất nhất định.

Trong việc thực hiện chế độ hợp đồng thu mua, đối với hàng nông sản cũng như hàng công nghiệp, hết sức khuyến khích cải tiến kỹ thuật, phát triển sản xuất, trên cơ sở đó bảo đảm vững chắc lực lượng vật tư của Nhà nước.

Về mặt tiêu thụ, quy định các chính sách cần thiết, bảo đảm nhu cầu ngày càng tǎng của nhân dân, đồng thời hướng dẫn nhân dân tiết kiệm tiêu dùng. Đối với những loại hàng thiết yếu, những loại hàng mà yêu cầu tiêu thụ nhiều nhưng khả nǎng cung cấp có hạn, thì cần tổ chức cung cấp có kế hoạch để giữ vững cung và cầu.

Tư tưởng “Nhà nước phải lo cho dân” được thể hiện mạnh mẽ nhất trong giai đoạn này; và bắt đầu bước vào mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung điển hình, thông qua việc tập trung nguồn lực vào cơ sở kinh doanh nhà nước, định hình mô thức thu mua - cấp phát trong hệ thống thương nghiệp.

Hình thức bao cấp qua giá

và số lượng hàng hóa

Những người nước ngoài sống ở Việt Nam có thể mua sắm ở cửa hàng quốc doanh một số mặt hàng như Intershop ở Hà Nội các món đồ như rượu vang, đồ hộp.

Cơm thường trộn thêm các thức ăn phổ biến hơn. Những đồ ăn trộn này nhập từ Ấn Độ, Liên Xô và một số nước khác viện trợ cho Việt Nam thời kì đó. Việt Nam cũng tham gia đổi hàng với các nước này hay mua chịu lương thực, thực phẩm.

Cùng với bao cấp lương thực, thực phẩm và hàng tiêu dùng, nhà nước cũng nắm việc phân phối nhà cửa. Nhiều khu nhà tập thể nhiều tầng được xây dựng giống như ở Liên Xô trong các thành phố, phân cho các cán bộ, công nhân viên nhà nước. Khi ở nhà bị hư hỏng, người dân không phải tự sửa mà Sở nhà đất lo sửa cho. Cuộc sống trong những căn hộ tập thể diện tích khiêm tốn, nhiều người trong gia đình sinh sống với cuộc sống thiếu thốn, nhiều bộn bề lo toan. Nhiều gia đình còn kiêm cả chăn nuôi trong nhà để kiếm thêm thu nhập. Lúc này, giá nhà trong thành phố khá rẻ nhưng những người làm nhà nước cũng khó có thể mua được một căn vì thu nhập rất thấp.

Các tài sản, thiết bị, hàng hóa và vật tư do nhà nước quyết định giá trị nên thấp hơn nhiều lần so với giá trị thực trên thị trường.

Các cán bộ công chức được cấp 13kg gạo/tháng còn công nhân lao động nặng được cấp 20kg/tháng. Do đó, cơm nấu thường được độn thêm khoai, ngô, sắn… rất phổ biến và không còn xa lạ đối với những người từng trải qua thời kì bao cấp.

Hàng hóa các loại đều rất khan hiếm, dù có tiền cũng không mua được. Thậm chí có tem phiếu nhưng có quá nhiều người xếp hàng mua nên không ít trường hợp chờ đến lượt mình thì không còn hàng, đành phải ra về. Hàng hóa số lượng ít, không đa dạng về chủng loại, mặt hàng để lựa chọn phục vụ nhu cầu nên nhiều khi không đủ ăn tới cuối tháng, nhiều người dân phải đi mua ở chợ đen.

Hình ảnh người dân đi mua nhu yếu phẩm bằng tem phiếu 

(Nguồn: Sưu tầm)

Hình ảnh tem phiếu được sử dụng thời bao cấp 

(Nguồn: Báo Thanh Hoá) 

BAO CẤP ĐƯỢC SINH RA 

VÌ NHU CẦU CỦA THỜI ĐẠI

Trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam (1945–1975), kinh tế kế hoạch hóa đã được áp dụng. Vào thời kỳ đó thì mô hình này có những ưu điểm, đáp ứng nhu cầu thời chiến. 

   Nhà nước có thể nhanh chóng huy động một lượng lớn tài nguyên, vốn, con người vào các ngành quan trọng.

   Trong các thời kỳ khó khăn (chiến tranh, thiên tai), Nhà nước có thể nhanh chóng huy động các nguồn lực cho các lĩnh vực thiết yếu (sản xuất vũ khí, lương thực, thuốc men y tế), đồng thời cắt giảm tối đa các lĩnh vực không thiết yếu (hàng xa xỉ, mĩ phẩm...) để dành nguồn lực cho các lĩnh vực quan trọng hơn.

Tình trạng phân hóa giàu nghèo rất ít, người dân sống đoàn kết vì không phải tranh đoạt kinh tế với nhau, không phát sinh mâu thuẫn xã hội giữa người giàu - người nghèo.

   Hạn chế được nạn đầu cơ, tích trữ và tình trạng hỗn loạn về giá cả vốn thường xảy ra trong thời chiến.

  Vì Nhà nước đã bao cấp các nhu cầu thiết yếu nên người lính có thể yên tâm ra trận, không phải lo lắng về sinh kế cho gia đình, vợ con.

TRỞ VỀ KÝ ỨC THỜI...BAO CẤP 

Văn hoá 

Thời bao cấp, văn nghệ sĩ sống và viết thế nào 

(Nguồn: Tạp chí Sông Hương) 

Rạp chiếu bóng thời bao cấp.

(Nguồn: Sưu tầm) 

Văn nghệ thời bao cấp. 

(Nguồn: Sưu tầm) 

  • Văn hóa được kiểm soát trong thời bao cấp, người dân ít được tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Các mảng về phim, văn học hay nhạc… đều được nhà nước kiểm duyệt trước khi phát hành tới người dân. Nội dung thường gần gũi với quần chúng, tư tưởng và quan điểm của Đảng và có giá trị nghệ thuật đem lại những giây phút thưởng thức nghệ thuật thú vị cho người dân. Văn học nước ngoài chủ yếu của nước Nga Xô Viết, văn học theo tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Văn học lãng mạn bị xem là tiêu cực ở giai đoạn này. 

  • Hồi đó, chưa có phim truyền hình mà chỉ có phim truyện nhựa, phim tài liệu. Phim được chiếu tại các rạp chiếu bóng lưu động, rạp chiếu bóng hay phát trên truyền hình trung ương. Ngoài ra còn có phim thương mại nhưng hiếm. Các phim nước ngoài là phim Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Một số ít là phim Mỹ, Pháp, Anh và Ấn Độ…Các phim nước ngoài được trình chiếu chủ yếu là phim Liên Xô và các phim các nước xã hội chủ nghĩa, ngoài ra còn có phim các nước Pháp, Mỹ, Anh, Ấn Độ,... Các phim Việt Nam chủ yếu tuyên truyền chiến đấu, sản xuất, một số tác phẩm văn học hiện thực phê phán trước 1945 được chuyển thể.

  • Âm nhạc được cho phép bao gồm nhạc cổ điển phương Tây như giao hưởng, opera; dân ca và nhạc đỏ. Nhạc tiền chiến, nhạc vàng, nhạc trẻ, ca trù, chầu văn và phần lớn âm nhạc từ các nước tư bản đều bị cấm.

  • Nhà nước chú trọng chống mê tín dị đoan, phổ biến khoa học. Báo chí không có quảng cáo thương mại. Báo chí hoạt động theo tôn chỉ mục địch của Đảng, phục vụ nhân dân gồm đa dạng các đối tượng. Báo chí được nhà nước bao cấp, không có quảng cáo. Các văn nghệ sĩ được nhà nước trả lương giống công chức, hoạt động trong các cơ quan nhà nước.

  • Thành tựu giáo dục trong thời kỳ này là phát triển hệ thống giáo dục phổ thông đại trà đến tận cấp xã; mỗi xã, phường đều có trường phổ thông cấp I hoặc trường phổ thông cấp I-II; tập trung cho công tác bổ túc văn hóa và xóa mù chữ trong độ tuổi đi học; mỗi quận, huyện và thị xã có trường bổ túc văn hóa cho cán bộ cơ sở. 

  • Thời bao cấp, người dân đi khám chữa bệnh hay mua thuốc rồi mang hóa đơn về cơ quan hay bệnh viện thanh toán mà không mất tiền, song điều kiện chữa trị rất thiếu thốn. Bao cấp nhưng trong bối cảnh Nhà nước thiếu kinh phí, sản xuất không phát triển nên bệnh viện gặp rất nhiều khó khăn. Các loại thuốc men, trang thiết bị y tế... chủ yếu được viện trợ. Bộ Y tế có cả Vụ kế hoạch, Cục Vật tư làm nhiệm vụ phân chỉ tiêu cho các bệnh viện. Ví dụ: Bệnh viện Bạch Mai một năm được cấp bao nhiêu chiếu, chăn, đường, sữa, xăng dầu, thuốc men... Các bệnh viện thời bao cấp có quy mô nhỏ, chủ yếu kiểu nhà một tầng đến ba tầng. Thuốc men, thiết bị y tế không đủ đáp ứng nhu cầu một phần nhập khẩu, một phần được viện trợ.

Một trạm y tế xã giai đoạn 1986-1992. Ảnh tư liệu.

CÁC DỊCH VỤ Y TẾ - GIÁO DỤC 

Lớp học cấp 2 trong thời bao cấp 

(Nguồn: Báo online Gia Lai) 

Một buổi thi tại trường đại học Kinh Tế Quốc Dân (NEU) thời bao cấp 

(Nguồn: Sưu tầm) 

CHUYỆN THẬT - NGƯỜI THẬT 

Trong dịp được phỏng vấn về vấn đề “thời kỳ bao cấp" với ông Gieo - cựu chiến binh đã đi bộ từ Bắc vào Nam để tham gia vào chiến dịch Hồ Chính Minh năm 1975, ông đã chia sẽ về khoảng thời gian lịch sử này. Ông nói: “đã là hợp tác xã thì ai cũng như ai"; “từ những phiếu vải, nước mắm, muối,...được chia sẻ để mỗi người được công bằng”; “đi bệnh viện không mất tiền, mắc bệnh nào có thuốc bệnh đó”; “học sinh đi học như tiểu học không có tiền, cấp hai 9 nghìn, cấp ba 12 nghìn”.

“Dù công bằng không tuyệt đối nhưng có thể đến

80-90%” 

Buổi phỏng vấn của các bạn thành viên với hai cựu chiến binh tại quận Tân Phú. 

Chúng tôi tìm đến ông Giao, một cựu chiến binh đã từng đi từ Bắc vào Nam để tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh, quê ở Hải Dương đang sống tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ: “Với nhiều người, trong đó có tôi, thời kỳ bao cấp là miền ký ức rất đặc biệt. Đến giờ, tôi vẫn không thể nào quên được những buổi xếp hàng từ tờ mờ sáng để mua nhu yếu phẩm phục vụ cuộc sống hàng ngày, quên sao được những cảnh cả nhà nhường nhịn để một người trong nhà có tấm áo tươm tất đi làm. Ngày nay, ăn ngon, mặc đẹp là hết sức bình thường. Thế nhưng, ở thời kỳ bao cấp, người dân đều dành vải đến tết mới may quần áo để diện đi chơi. Lúc đó, vải là một mặt hàng vô cùng khan hiếm. Để có vải, người dân phải có tem vải, phiếu vải do cơ quan Nhà nước phát hành. Với định lượng phân phối được Nhà nước quy định cho từng đối tượng nên khi có vải để may quần áo cũng có nhiều câu chuyện vui. Người lùn nhỏ thì may quần áo còn rộng rãi vài phần. Những người cao lớn, mặc quần áo ngắn cũng đành chịu. Ai chịu khó giữ gìn thì quần áo mặc được lâu, lỡ sờn rách thì cố vá víu mặc tạm chờ đợt cấp mới. Vì thế, người mặc quần vá, tích kê đầu gối rất phổ biến, áo sơ mi sờn cổ thì mang ra hiệu may lộn lại. Hết chuyện mặc đến chuyện ăn, tất cả các mặt hàng thực phẩm thiết yếu như thịt, đường, sữa… cũng đều có tem, phiếu.

Hình các cựu chiến binh của hội cựu chiến binh quận Tân Phú

Ông Bùi Đức Hiển ở phường Hiến Nam (thành phố Hưng Yên) hoài niệm: Ngoài lương thực, thực phẩm, Nhà nước quy định tiêu chuẩn của mỗi cán bộ Nhà nước được phân phối một chiếc xe đạp trong cả đời công tác. Ai đã có xe đạp thì được đăng ký để xin sổ mua phụ tùng. Ai chưa có xe đạp thì tích cóp dần phụ tùng qua mỗi đợt có tiêu chuẩn đưa về cơ quan, xí nghiệp như: Xích, líp, săm, lốp… Để có những phụ tùng này thường có những cuộc bình xét trong nội bộ, thế nên có người cả đời đi làm chỉ tích được hai đôi lốp vì không phải lần bình xét nào cũng may mắn được nhận phụ tùng. Với tôi, ký ức về thời bao cấp nhớ nhất là việc xem ti vi. Những năm 1978 -1979, cả xóm tôi chỉ có một nhà có ti vi đen trắng. Tuổi thơ chúng tôi gắn liền với bộ phim truyền hình của Bulgari “Trên từng cây số” kể về đất nước Bulgari trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, công cuộc tái thiết và chống lại các lực lượng phá hoại, ông Hiển kể, vào mỗi buổi tối có chương trình vô tuyến thì cả xóm vui như ngày hội. Nhà bác trong xóm có ti vi lúc nào cũng chật ních người, trong căn phòng rộng chừng hơn chục mét vuông, chiếc tivi để ở vị trí thật trang trọng. Mọi người từ lớn đến nhỏ ngồi trật tự, chăm chú như nuốt từng lời thoại của nhân vật trong phim. Bác hàng xóm rất nhiệt tình, hàng ngày mang bình ắc quy đi sạc điện và cũng không cảm thấy phiền hà gì khi trong nhà thường tối nào cũng chật ních người đến xem ti vi. Tình người thời đó thật đáng quý.

Câu chuyện được tham khảo từ báo Hưng Yên đăng vào ngày 02/02/2022.

HẠN CHẾ THỜI BAO CẤP 

     Do nền kinh tế vận hành theo phương thức kế hoạch hóa tập trung, lại cộng thêm năng lực sản xuất của các nhà máy, xí nghiệp hạn chế nên sản lượng làm ra rất khiêm tốn. Nhiều mặt hàng bao cấp cơ bản phải nhập khẩu như dầu hỏa, lương thực hoặc được viện trợ nên Trung ương cấp gì Hà Nội bán nấy. Có giai đoạn người dân được ăn 100% gạo, song cũng có giai đoạn phải "độn" mì, bo bo. Gạo cũ, mục, nhiều sạn và thóc, mì sợi đen cũng phải mua. Nhu cầu rất lớn mà hàng hóa không phải lúc nào cũng sẵn trong kho dẫn đến số lượng bán ra nhỏ giọt đã sinh ra rồng rắn xếp hàng.

     Ngoài yếu kém của nền kinh tế, đất nước sau thống nhất chưa bao lâu lại phải tiếp tục bước vào cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc nên cuộc sống càng thiếu thốn, khó khăn trong suốt thời kỳ bao cấp. Nhiều gia đình ở Hà Nội phải làm thêm nghề phụ như dệt len, dán vỏ hộp, bóc lạc, nuôi chim cút, nuôi gà công nghiệp... Có nhà ở tập thể cao tầng còn nuôi lợn, bất chấp ban quản lý ra lệnh cấm vì phân lợn làm tắc cống thoát nước. Năm 1985, Nhà nước thực hiện chính sách “giá - lương - tiền” nhưng đời sống người dân không những không được cải thiện mà còn khó khăn hơn.

Hình ảnh người dân đi mua nhu yếu phẩm bằng tem phiếu 

“Đảng Cộng Sản Việt Nam lãnh đạo rất tài tình” 

Lời chia sẻ của ông Gieo - cựu chiến binh tại quận Tân Phú

Hướng phát triển của Đảng và Nhà nước đối với thời kì bao cấp

Nhận thức được nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế trên là do cơ chế quan liêu bao cấp, năm 1986, lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã quyết tâm đổi mới.

Trong Báo cáo chính trị đọc tại Đại hội Đảng lần thứ VI, tháng 12-1986, Tổng Bí thư Trường Chinh đã thẳng thắn “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”: Đất nước khó khăn là do chủ quan, duy ý chí, không theo quy luật đã dẫn đến kìm hãm phát triển, đời sống nhân dân gặp muôn vàn khó khăn.

Phát triển bởi tempi | Đăng ký Hoặc Gia hạn để nhận ngay ưu đãi lên đến 50%