"Đất nước chúng ta đã trải qua 1000 năm đô hộ Tàu, 100 năm đô hộ Tây và 45 năm đô hộ giặc Cộng. Đó là một quá trình dài đau khổ dưới gòng sắt và gọng kiềm nô lệ của nhân dânViệt Nam. Một trang lịch sử dài cuối cùng cũng khép lại vào ngày 30/4/1975, một ngày vô cùng quan trọng đối với vận mệnh quốc gia. Khi cánh cửa Dinh Độc Lập bị phá đổ, chiếc cờ đỏ sao vàng được phất cao trên đỉnh dinh thì cũng chính là lúc chúng ta giành được quyền độc lập và tự do. Khắp nơi ồ ạt loan tin về chiến thắng oanh liệt, ghi tạc vào trái tim của hàng triệu triệu con người từ già đến trẻ, từ đàn ông đến đàn bà, từ khắp nơi trên cả nước. Thật tiếc rằng, chúng ta - những thế hệ 8x, 9x và 2k lại có những cái nhìn mơ hồ về hình ảnh huy hoàng một thời. Vì thế, chúng ta hãy cùng lắng nghe những lời hát đầy lãng mạn và trữ tình của nữ ca sĩ Hoàng Trang với bài hát "Ta đã thấy gì trong đêm nay" của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn như khắc họa rõ nét không khí hào hùng ấy, trước khi tìm hiểu về màu sắc của hòa bình."
Hòa bình là trạng thái không xảy ra chiến tranh hay xung đột vũ trang; con người được sống trong một xã hội an toàn, hạnh phúc.
Biểu hiện của hòa bình là cuộc sống bình yên, con người được học tập, lao động, phát triển, chung sống hòa thuận cùng nhau; các quốc gia tôn trọng, hợp tác, cùng phát triển.
2.TỔNG QUAN
BỐI CẢNH
Những mất mát mà người lính, gia đình - hậu phương phải gánh chịu.
Chiến tranh đã qua đi, trả lại cho chúng ta sự hòa bình, độc lập và tự do. Dẫu vậy, những mất mát và tổn thất vẫn luôn tồn đọng và không thể xóa nhòa trong trái tim của người lính và gia đình họ.
Những khủng hoảng khi chính chiến tranh đã cướp đi khả năng lao động - nhu cầu cơ bản nhất của con người. Thậm chí là chúng hủy diệt tứ chi, mất khả năng nghe, nói, đọc, viết, nhìn và là những căn bệnh tiềm ẩn khác. Tại Bảo tàng chứng tích Việt Nam, chúng ta sẽ có cơ hội được tiếp xúc với những người vốn là nạn nhân của chiến tranh. Và khó khăn lớn nhất mà họ phải đối mặt chính là cộng đồng kỳ thị. Họ bị đưa sang bên lề của tập thể, trở thành một thành phần khác biệt và dị biệt với phần lớn số đông.
Ta không thể không kể đến chất độc màu da cam, sự hành hạ tàn khốc nhất của con người chính là loại vũ khí chết người ấy. Chính chất độc màu da cam, điều mà vẫn còn gây ám ảnh đối với đất đai và con người vùng An Giang. Mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút trôi qua những quả bom mìn vẫn còn nằm rải rác như một nỗi lo sợ, thoi thóp và bất an.
Chất độc màu da cam là một loại chất độc thuốc diệt cỏ, thể lỏng, màu nâu đỏ hay màu nâu, đặc biệt không tan trong nước và cực kỳ nguy hiểm. Chất độc màu da cam chính là nguyên nhân gây ra đột biến gen dẫn đến ung thư, bệnh di truyền và quái thai.
Trích từ báo Nhân dân : “Theo Giáo sư người Mỹ J.M.Xteo-men (J.M.Stellman) và tài liệu của Bộ Quốc phòng Mỹ, trong chiến tranh Việt Nam từ 1961 đến 1971, quân đội Mỹ đã tiến hành 19.000 phi vụ rải hơn 80 triệu lít chất độc hóa học có chứa 366 kg chất đi-ô-xin cực kỳ độc hại xuống 26 nghìn làng, bản Việt Nam, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường sinh thái và sức khỏe con người.” → Hậu quả để lại là gần 8 triệu người Việt Nam bị chết và thương tật do chất độc màu da cam dioxin và “hàng chục nghìn người Mỹ và quân lính các nước chư hầu chịu hậu quả chất độc hóa học và di chứng chiến tranh tại Việt Nam.” (báo Nhân dân)
Dù chúng không trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của người mắc chất độc nhưng chúng lại ảnh hưởng đến con cái của họ một cách sâu sắc. Những đứa trẻ tội nghiệp có bố mẹ nhiễm chất độc màu da cam phải mang thân hình bẩm sinh dị tật, hội nhập, kém phát triển. Đó là hậu quả do chiến tranh để lại. Rõ ràng rằng, đây không chỉ là một cuộc chiến kéo dài trên mặt trận bom súng mà còn là trận địa của hậu bom súng - những căn bệnh, nỗi lo lắng không thể hóa giải. Hơn 100.000 trẻ em thế hệ hai và thế hệ ba bị di chứng của chất độc này và con số thiệt mạng, tàn phế của binh lính Mỹ lên đến gần 400.000 người. Thật vậy, không có ai nghèo hơn người mắc chất bệnh màu da cam và không có ai đau hơn người mang trong mình chất độc dioxin.
Ngoài những tổn thất về tinh thần, người ta còn phải gánh chịu những hư hao, mất mát về vật chất, của cải. Do biến chứng của những vết thương từ trận chiến, những người lính không thể lao động và một số còn sống như một người thực vật. Những hộ gia đình lâm vào cảnh nghèo đói, tù túng và cùng quẫn. Chiến tranh đã bó buộc họ trong sự thiếu thốn về tình cảm (con mất cha, mẹ mất con) lẫn tay trắng về vật chất.
Những hậu quả lớn xảy ra không chỉ ở ta mà còn là ở địch, chiến tranh bao trùm cả thế giới và dù đứng ở phe nào thì người phải gánh chịu mọi hậu quả vẫn là người dân thiệt mạng. Thảm cảnh của lịch sử là điều mà chúng ta tuyệt nhiên không còn cách nào để có thể thay đổi nhưng những gì chúng ta có thể làm được đó chính là nhận thức được tầm quan trọng của hòa bình.
HÒA BÌNH CHO SỰ SỐNG TÍCH CỰC
"Thảm cảnh của lịch sử là điều mà chúng ta tuyệt nhiên không còn cách nào để có thể thay đổi nhưng những gì chúng ta có thể làm được đó chính là nhận thức được tầm quan trọng của hòa bình."
Hãy cùng Sao Vàng trò chuyện cùng ông Gieo, một người lính ở Hải Dương từng tham gia chiến đấu trong chiến dịch Hồ Chí Minh nhé!
→ “Phải đi liên tục, không được dừng lại. Ngủ thì phải mắc võng, một người phải vác một cái balo nặng 35 ký, cổ phải đeo một bịch gạo. Nhiều khi trời mưa, chiến đội cột võng lên cây bị nước mưa từ thân cây chảy xuống thấm ướt võng không thể ngủ được, mà ngày xưa thanh niên nghịch ngợm lại lấy đó là chuyện vui.” - Ông cười.
Ông Nguyễn Doãn Gieo, sinh năm 1959 đến từ Hải Dương. Ông hiện đang là thành viên của Hội cựu chiến binh tại quận Tân Phú và từng tham gia chiến đấu với tư cách là thành viên của Sư đoàn 6 trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
→ “Có một ấn tượng mà ông không quên được đó là lần chiến đấu với sư đoàn Dù ở Củ Chi. Dù trận địa giải tán và ông phải chạy sang Campuchia nhưng vẫn bị máy bay chạy theo rà soát…Lúc đó, ông đứng dưới chân cây cầu Cháy, rồi hai bên rượt đuổi qua lại trên dòng sông: người dưới nước, kẻ trên trời. Cuối cùng ông vẫn bị bắn vào mắt cá chân nhưng cũng may mắn rằng chúng không truy tới cùng. Thế là, ông trốn vào bụi chuối gần đó, xé một miếng vải áo rồi băng bó tạm thời, chờ đồng đội đến giải cứu”, ông nói, “Đó không phải là may mắn quá hay sao?” - ông cười.
→ “Buồn chứ!...Ừ phải buồn chứ. Trên đường hành quân mà gặp một người đồng chí lại cùng quê, quý hóa lắm! Hôm qua còn cười nói vui vẻ, nay đã mất thì cũng thấy trống trải. Dù tuổi trẻ hăng hái, tinh nghịch nhưng cũng sợ cái chết chứ!”
→ “Là gia đình. Gia đình ông theo cách mạng, có nhiều thương binh và thuộc diện được chu cấp ăn học. Rồi ông vào Nam để học. Anh ruột của ông cũng từng chống Pháp và mất trong cuộc chiến ấy.”
→ “Ông chỉ muốn nhắn gửi các cháu hãy học tập và noi gương các thế hệ đi trước để tiếp nối các công cuộc tiếp theo. Việc giữ gìn hòa bình đã có Đảng, các cháu chỉ việc học hành tới nơi tới chốn để hỗ trợ, cống hiến trí lực cho đất nước. Ông cũng cảm thấy rất tiếc vì ngày xưa không có cơ hội được học hành đầy đủ. Vậy nên, các bạn trẻ ngày nay được sống trong hòa bình hãy trân trọng điều đó.”
Người đặt nền móng cho quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ.
Trích báo Tạp chí Cộng sản: “Trong hành trình ra đi tìm đường cứu nước, Người đã bôn ba nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước lớn, sau này là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tại Mỹ, Người đã có thời gian sinh sống và làm việc ở nhiều thành phố, như New York, Boston(3). Trong những năm tháng tại đây, với góc nhìn biện chứng, khách quan về Mỹ, Người thấu hiểu những giá trị tốt đẹp của nhân dân Mỹ với công cuộc đấu tranh giành độc lập cũng như những mặt trái của giai cấp tư sản Mỹ.”
Hiểu được những giá trị đó, việc kết nối cũng như hợp tác với các đất nước khác là một điều vô cùng tiên tiến và quan trọng trong đường lối phát triển của Việt Nam. Trích báo Tạp chí Cộng sản: “Trong giai đoạn khốc liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngần ngại tuyên bố: “Tôi kính trọng nhân dân Mỹ. Chúng tôi chìa bàn tay hữu nghị với bất kỳ quốc gia nào thừa nhận Việt Nam là một nước tự do và độc lập”. Điều này nêu cao tính chính nghĩa của sự nghiệp đấu tranh cách mạng, Việt Nam đã tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của bạn bè quốc tế. Tại Mỹ, đã có hàng trăm cuộc biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam, với sự tham gia của hàng chục vạn người dân Mỹ tiến bộ.” Vì thếHòa bình mở ra những kết nối trong mối quan hệ tốt đẹp, cùng nhau phát triển vì lợi ích của con người.
Ngoài ra, đó là mối quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản → Hình ảnh hầm Thủ Thiêm được xây dựng dưới sự kết hợp của hai đất nước đã làm nên những kỳ tích đầy ngưỡng mộ → Thể hiện được trí thông minh, tài năng của con người → Đóng góp vào việc nâng cao đời sống con người đi lên.